Chuyển đến nội dung chính

Nhân trần

Còn có tên gọi khác: hoắc hương núi, chè nội. Có vài loại cây khác họ với cùng tên gọi "nhân trần", cụ thể là Adenosma caeruleum R. Br. (nhân trần cái), Adenosma bracteosum Bonnati (nhân trần tím), Artemisia capillaris Thunb. (nhân trần Trung Quốc). Nhưng cơ bản nhân trần là cây được xếp vào họ Mã đề (Plantaginaceae). 
Hình ảnh thực tế cây nhân trần
Trong cây nhân trần có tinh dầu như cineol và flavonoit. Thường được người dân sử dụng làm nước uống hàng ngày thay cho chè, vối.
Mô tả:
Tên nhân trần dùng để chỉ ít nhất cũng là 3 cây khác nhau.
– Cây nhân trần Việt Nam (nhân trần cái - miền Bắc, để phân biệt với nhân trần đực hay cây bồ bồ) - tên khoa học là Adenosma caeruleum R. Br., là loại cỏ mọc hoang, sống hàng năm cao 0,3-1m, than tròn, màu tím trên có long, trăng mịn, ít phân cành. Lá mọc đối hình trứng, đầu lá dài và nhọn, mép có răng cưa to, mặt trên và dưới đều nhiều lông mịn, phiến lá dài 3-8 cm,rộng 1-3,5cm, gân nổi rõ ở mặt dưới, cuống 5-10 mm. Toàn thân và lá vò có mùi thơm. Hoa mọc đơn độc ở kẽ lá hay thành chùm bông ở đầu cành. Đài hình chuông xẻ thành 5 thùy sâu. Tràng màu tím xanh dài 10-14 mm, môi trên hình lưỡi, môi dưới xẻ thành 5 thùy đều nhau. Quả nang hình trứng, dài bằng đài, nhiều hạt nhỏ.
– Cây bồ bồ (nhân trần đực) là một loại cỏ cao 15-70cm, mang nhiều cành ngay từ gốc, than nhẵn hay hơi có lông. Lá mọc đối có cuống. Phiến lá hình mác dài, đầu nhọn, phía cuống hẹp lại, mép hơi khía tai bèo hay có răng cưa. Cụm hoa hình cầu, rất nhiều hoa thường có 2 lá bắc. Hoa nhỏ không cuống, đài có lông với 2 môi, môi trên nguyên, môi dưới xẻ 4. Tràng cánh hợp với 2 môi, môi trên xẻ 4, môi dưới nguyên, 4 nhị 2 chiếc đài.
– Cây nhân trần tím (hay nhân trần cái của miền Nam, còn có tên nhân trần lá bắc) - Adenosma bracteosum Bonnati - cùng họ Hoa mõm chó. Thân và cành có màu tím đỏ, cụm hoa thành bông dài mang ở gốc những lá bắc tạo thành tổng bao, những lá bắc phía trên lợp lên mau, dạng màng, trong suốt, hình tim có chóp nhọn. Mọc tốt ở các đất phèn của miền Nam Mọc vào tháng 5 (mùa mưa), ra hoa vào khoảng tháng 10-1, tàn lụi tháng 1-2.
– Cây nhân trần Trung Quốc (thường gọi "nhân trần hao") - Artemisia capillaris Thunb. Họ cúc Asteraceae, cao 0,4-1m. Lá xẻ thành thùy rất nhỏ, hình sợi, trông gần giống cây thanh hao
Phân bố, thu hái và chế biến:
Nhân trần và bồ bồ thường mọc hoang ở những đồi, những ruộng vùng trung du miền Bắc, nhiều nhất tại Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Giang, Bắc Ninh. Còn mọc ở Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia.
Trồng bằng hạt. Thường thu hái vào mùa hè khi cây đang ra hoa. Mang về phơi hay sấy khô, bó thành từng bó dài 25-30cm, đường kính 5-6cm, trọng lượng 40-60g, gồm chừng 20 cây mang hoa buộc lại thành 1 bó.
Nhân trần, danh pháp 2 phần: Adenosma glutinosum.
Tác dụng dược lý:
– Bồ bồ: Làm tăng tiết mật rõ rệt; Có tác dụng chống viêm; Có tác dụng kháng khuẩn trên nhiều loại vi khuẩn mạnh; Có tác dụng rõ rệt làm giảm tiết dich vị, giảm độ axit tự do và axit toàn phần của dịch vị, làm giảm loét dạ dày; Độc tính không đáng kể
– Nhân trần có tác dụng: Tăng tiết mật, tăng thải độc gan, nhưng yếu hơn bồ bồ; Tác dụng chống viêm; Tác dung kháng khuẩn kém hơn bồ bồ nhất là với trực khuẩn lị, nhưng ức chế mạnh hơn với Staphyllococcus và Streptococcus; Tác dụng không rõ rệt lê tiết dịch vị: Không giảm loét dạ dày, không giảm tiết dịch vị, có làm giảm axit tự do và axit toàn phần tuy nhiên 2 tác dụng này lại giảm khi dung liều cao; Không độc.
– Nhân trần tía: Làm tăng lượng tiết mật trên chuột lang.
– Nhân trần Trung Quốc: Tác dụng chữa sốt và một số công dụng khác.
Tác dụng và liều dùng:
Theo tài liệu cổ, nhân trần có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, dung chữa thân thể nóng, da vàng người vàng, tiểu tiện không tốt.
Nhân trần thường được dung cho phụ nữ sau sanh nở để giúp cho ăn ngon cơm, nhanh chóng phục hồi cơ thể. Còn dung làm thuốc chữa sốt, ra mồ hôi, thông tiểu tiện, chưa bệnh vàng da, bệnh gan.
Trong thú ý, người ta dung bồ bồ chứa bệnh trâu bò đi ngoài ra phân trắng.
Ngày dùng 4-6g, có khi dưới 20g dưới dạng thuốc sắc, xi rô, thuốc pha hay thuốc viên.
Nguồn: Theo Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (2004)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Ngũ gia bì, cây chân chim (lá lằng)

Tên khác của Ngũ gia bì Ngũ gia bì còn có tên gọi là Cây chân chim ( cùng họ với Nhân sâm ), một số địa phương miền núi phí Bắc còn gọi là : Cây lá lằng, cây đáng, cây chân vịt, Sâm nam, may tảng … Tên khoa học Acanthopanax aculeatus Seem. Khu vực phân bố Ở Việt nam Cây ngũ gia bì (chân chim) thường mọc hoang dại ở khắp các sườn đồi từ Bắc trí Nam, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía bắc. Ở tỉnh Hòa Bình cây chân chim mọc rất nhiều ở sườn đồi và ven suối. Bộ phận dùng Điểm đặc biệt của Ngũ gia bì, chân chim là không sử dụng toàn bộ thân làm thuốc. Mà chỉ dùng vỏ của thân, vỏ của rễ và rễ nhỏ để dùng làm thuốc Ngoài ra lá cũng được dùng làm thuốc điều trị sưng đau. Cách chế biến và thu hái Cách chế biến đơn giản nhất là rửa sạch đất cát, bóc lấy vỏ hoặc thái mỏng nếu lá rễ nhỏ, rồi phơi hoặc sao khô. Thành phần hóa học Trong cây thuốc có các hoạt chất: Saponin, tanin, tinh dầu. Tính vị Ngũ gia bì có vị đắng chát, tính mát * Công dụng Tác dụng làm vị thuốc

Lá trầu không

Lá trầu không là lá của cây trầu không, còn có tên gọi khác là thược tương. Tên khoa học Piper betie L. Thuộc họ hồ tiêu Khu vực phân bố Cây trầu không được người dân trồng ở khắp các vùng miền cả nước để lấy lá ăn trầu. Trong các đám cưới, đám chay đều có lá trầu, buồng cau. Có câu miếng trầu là đầu câu chuyện, ý nói trầu cau rất phổ biến trong đời sống hàng ngày của người Việt Nam ta. Thật bất ngờ loài cây thông dụng này lại có công dụng điều trị bệnh viêm da cơ địa cực hay. Bộ phận dùng Lá là bộ phận được dùng làm thuốc. Cách chế biến và thu hái Người dân thường thu hái lá tươi để dùng quanh năm. Thành phần hóa học Trong lá trầu có chứa một lượng tinh dầu mùi thơm. Tinh dầu này có thành phần hóa học chính là các hợp chất phenol, betel-phenol Tính vị Lá trầu không có vị cay nồng, thơm nhẹ, tính ấm. * Công dụng của lá trầu không Theo kinh nghiệm dân gian lá trầu không có các công dụng chính sau: Điều trị đầy bụng, khó tiêu Sát trùng vết thương Tẩy vết chàm ở

Màn kinh tử

Cây màn kinh tử còn có tên gọi khác là cây quan âm, vạn kim tử, cây thuốc ôn, thuốc kinh, đẹn ba lá…. Tử nghĩa là hạt, màn kinh tử nghĩa là hạt của cây màn kinh. Tên khoa học Vitex trifolia L. Thuộc họ cỏ roi ngựa. Khu vực phân bố Cây màn kinh tử mọc hoang ở khắp các dải bờ biển nước ta. Hiện nay cây mọc nhiều ở ven biển các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và một số tỉnh ven biển….. Bộ phận dùng Quả, lá cây là bộ phận được dùng làm thuốc. Cách chế biến và thu hái Thời gian thu hái quả vào tháng 9 đến tháng 11 hàng năm, đem quả phơi khô làm thuốc. Thành phần hóa học Trong quả có tinh dầu, ancaloit, vitamin A. Tính vị Màn kinh tử có vị hơi đắng, mùi thơm nhẹ, tính hàn. Vào 3 kinh can, phế, bàng quang. * Công dụng của màn kinh tử Theo y học cổ truyền vị thuốc màn kinh tử có một số tác dụng sau: Điều trị cảm sốt, nhức đầu Điều trị ho Điều trị sưng vú Điều trị bệnh thiên đầu thống (đau mắt, mờ mắt) Điều trị tóc bạc sớm Cách dùng, liều dùng Điều