Chuyển đến nội dung chính

Cây cỏ lào

Cây cỏ lào còn có tên là cỏ Việt Minh, Cây cộng sản, cây phân xanh ……

Tên khoa học
Cây có tên khoa học là Chromolaena odorata

Cây có tên gọi này bởi loài cây này mọc và phân bố rất nhiều ở các tỉnh trung du miền núi nước ta, nơi mà bộ đội ta ngụy trang để thực hiện hình thức chiến tranh du kích. Cỏ lào còn là những tấm ngụy trang kín đáo cho bộ đội ta tấn công bí mật vào lòng địch.

Ngoài ra cây còn là một vị thuốc thông dụng được bộ đội ta dùng để băng bó, cầm máu vết thương.

Là một cây mọc hoang rất phổ biến, cỏ Lào còn được người dân ủ để dùng làm phân xanh bón cho đồng ruộng.

Bộ phận dùng làm thuốc
Toàn cây gồm lá và thân được dùng làm thuốc, có thể dùng lá tươi hoặc lá khô.

Các nghiên cứu về cây cỏ lào
Năm 1976 Viện y học Quân sự Việt Nam sau nhiều năm nghiên cứu đã công nhận hiệu quả kháng viêm, kháng khuẩn, chống nhiễm khuẩn vết thương của cây cỏ lào.

Tính vị
Cây cỏ lào có mùi hôi, vị hơi cay, tính ấm, có tác dụng sát trùng, tiêu viêm, cầm máu. Cây thường được sử dụng để điều trị một số bệnh viêm nhiễm và trấn thương chảy máu.

Tác dụng của cây cỏ lào
Cỏ lào có một số tác dụng chính như sau:
Tác dụng cầm máu, sát trùng vết thương
Tác dụng kháng viêm vết thương ngoài da
Tác dụng điều trị lỵ, tiêu chảy
Tác dụng hỗ trợ điều trị viêm dạ dày
Tác dụng hỗ trợ điều trị viêm đại tràng
Cách dùng làm thuốc
1. Điều trị viêm nhiễm đường ruột, tiêu chảy:
Dùng 150g lá tươi (hoặc 50g lá khô) hãm nước sôi uống hàng ngày.
2. Điều trị viêm dạ dày:
Kết hợp: Lá khôi, dạ cẩm, tam thất nam, cỏ lào sắc uống với tỷ lệ như sau:
Lá khôi 30g, cỏ lào 20g, dạ cẩm 20g, tam thất nam 5g sắc nước uống hàng ngày. Cách dùng trên là kinh nghiệm quý báu của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.
3. Điều trị viêm đại tràng:
Cỏ lào khô 20g, khổ sâm 10g, bạch truật 25g sắc nước uống trong ngày.
4. Điều trị vết thương ngoài da:
Dùng 1 nắm lá cỏ là tươi giã nát đắp vào vết thương. Mỗi ngày làm 1 lần, duy trì làm khoảng 3-4 lần sẽ giúp vết thương rất chóng lành và hạn chế viêm nhiễm.
Nguồn: Tổng hợp online

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

hoa tam thất

Ngoài củ tam thất (Kim bất hoán) là một trong những dược liệu quý được dùng phổ biến, hoa của cây tam thất cũng được cũng là một vị thuốc được sử dụng rất nhiều trong y học cổ truyền. *Những tác dụng quý của Hoa tam thất: Tác dụng điều trị mất ngủ, mơ sảng, khó ngủ, ngủ không sâu giấc (Tác dụng này của Hoa tam thất là vô cùng hiệu quả, kể cả với những người mất ngủ kéo dài, kinh niên. Hoa tam thất sẽ giúp bạn giải quyết bệnh mất ngủ một cách triệt để với hiệu quả đáng kinh ngạc). Tác dụng ổn định huyết áp kể cả người mắc huyết áp cao và huyết áp thấp, Hoa tam thất đều có tác dụng rất tốt. Tác dụng tăng lực: Giúp giảm căng thẳng mệt mỏi khi bạn phải làm việc nặng nhọc với cường độ cao ( Đặc biệt trong những ngày mùa hè oi bức ) Tác dụng tốt cho hệ tuần hoàn, tim mạch: Hoa tam thất được chứng minh là vị thuốc rất tốt cho hệ tim mạch. Những bệnh nhân tim mạch nên sử dụng Hoa tam thất hàng ngày để có một trái tim khoẻ mạnh. Tác dụng phòng ngừa và hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường, giú

Nấm ngọc cẩu Hòa Bình

Giới thiệu về nấm ngọc cẩu Vì sao nấm có tên : Nấm ngọc cẩu: Vì nhìn hình dáng của cây nấm có màu đỏ tươi, lại rất giống bộ phận sinh dục của chó đực nên người dân gọi cây thuốc này là Nấm ngọc cẩu hay Cẩu pín. Tên khác Nấm ngọc cẩu còn có tên gọi khác là: Củ gió đất, cu pín, củ ngọc núi, hoa đất, xà cô, ký sinh hoàn, bất lão dược, địa mao cầu Tên khoa học Cynomorium songaricum Rupr Khu vực phân bố Nấm ngọc cẩu thường mọc trên các vùng núi cao khoảng 1.500m so với mực nước biển, chỉ những khu vực có khí hậu lạnh mới tìm thấy loại cây thuốc này. Ở nước ta nấm ngọc cẩu mọc nhiều  ở các tỉnh miền núi phí bắc như: Hòa Bình, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên. Nhiều nhất là ở Hòa Bình, là một tỉnh miền núi, có khí hậu lạnh, ở các huyện vùng cao Tân Lạc, Mai Châu là nơi có nhiều cây nấm ngọc cẩu nhất. Nấm ngọc cẩu thường mọc và sống ký sinh trên rễ của những cây gỗ lớn mọc trong rừng sâu ẩm thấp. Hàng năm vào tháng 8 đến tháng 12 người dân mới phát hiện nấm ngọc cẩu trong

Ngũ gia bì, cây chân chim (lá lằng)

Tên khác của Ngũ gia bì Ngũ gia bì còn có tên gọi là Cây chân chim ( cùng họ với Nhân sâm ), một số địa phương miền núi phí Bắc còn gọi là : Cây lá lằng, cây đáng, cây chân vịt, Sâm nam, may tảng … Tên khoa học Acanthopanax aculeatus Seem. Khu vực phân bố Ở Việt nam Cây ngũ gia bì (chân chim) thường mọc hoang dại ở khắp các sườn đồi từ Bắc trí Nam, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía bắc. Ở tỉnh Hòa Bình cây chân chim mọc rất nhiều ở sườn đồi và ven suối. Bộ phận dùng Điểm đặc biệt của Ngũ gia bì, chân chim là không sử dụng toàn bộ thân làm thuốc. Mà chỉ dùng vỏ của thân, vỏ của rễ và rễ nhỏ để dùng làm thuốc Ngoài ra lá cũng được dùng làm thuốc điều trị sưng đau. Cách chế biến và thu hái Cách chế biến đơn giản nhất là rửa sạch đất cát, bóc lấy vỏ hoặc thái mỏng nếu lá rễ nhỏ, rồi phơi hoặc sao khô. Thành phần hóa học Trong cây thuốc có các hoạt chất: Saponin, tanin, tinh dầu. Tính vị Ngũ gia bì có vị đắng chát, tính mát * Công dụng Tác dụng làm vị thuốc