Chuyển đến nội dung chính

Cây cỏ máu

Cây cỏ máu còn có tên gọi khác là cây máu người, cây dây máu – một loại cây dây leo lớn, thân gỗ, cây thường to bằng cổ tay.


Loài cây này có tên gọi là cỏ máu bởi nó là dạng cây thân leo, nếu lấy dao chặt vào thân cây sẽ có nhựa màu đỏ chảy ra như màu máu do vậy người dân thường gọi là cây dây máu.

Do có nhiều tác dụng quý cho sức khỏe, nhất là giúp bổ máu, dưỡng huyết nên từ hàng ngàn đời này người dân vùng cao thường lấy cây này làm nước uống hàng ngày.

Tên khoa học
Sargentodoxaceae, thuộc họ huyết đằng.

Khu vực phân bố
Thực ra đây không phải là 1 loài cỏ dại, cây cỏ máu là loài thân gỗ có đường kính thân cây khá lớn từ 3-4cm, có gỗ rất cứng. Thường mọc dưới các tán rừng, sống tựa vào các cây gỗ lớn trong rừng.

Cây cỏ máu mọc hoang ở các tỉnh miền núi như Hòa Bình, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Lâm Đồng…..

Loài cây này thường mọc ở những vùng rừng rậm, nhiều cây gỗ lớn, đặc biệt ở các vùng rừng nguyên sinh. Những khu đồi thấp rất ít gặp cây thuốc này.

Thời gian gần đây, nhu cầu về cây cỏ máu khá lớn, người dân khắp nơi tiến hành khai thác loài cây này bán cho thương lái. Do sản lượng có hạn nếu không có những biện pháp phát triển, khai thác đi đôi với bảo vệ thì sẽ có ngày loài cây thuốc quý này cũng đứng trước nguy cơ bị diệt vong.

Cách chế biến và thu hái
Bộ phận dùng là thân cây. Người dân thường đi rừng chặt những cành có đường kính từ 3-5cm thành từng đoạn dài 1,5m, bó thành từng bó đem về chặt thành những miếng mỏng phơi khô làm thuốc.

Nhiều nơi đem về chặt thành những đoạn có chiều dài khoảng 25-30cm rồi gác lên gác bếp cho tới khô. Mỗi khi sử dụng người ta dùng dao chẻ thành những miếng nhỏ rồi đun nước uống hàng ngày. (Điều đặc biệt là: Tuy được phơi khô, gác lên bếp lâu ngày nhưng khi đun nước loài cây này vẫn giữ được màu đỏ và mùi vị đặc trưng)

* Công dụng của cây cỏ máu
Bổ máu, dưỡng huyết
Tăng cường tiêu hóa, giúp ăn ngon, ngủ tốt, tăng cân
Tăng cường đào thải độc tố trong cơ thể
Mát gan, giải độc, hạ men gan
Giải độc bia rượu
Giúp da dẻ mịn màng, hồng hào

Đối tượng sử dụng
Phụ nữ sau sinh
Người gầy yếu
Người thường xuyên dùng bia rượu
Người bình thường không bệnh tật gì cũng nên dùng hàng ngày

Cách dùng, liều dùng
Dùng 50g cây khô, pha với 1,5 lít nước đun sôi uống hàng ngày, hoặc đun với 2 lít nước để uống trong ngày.

Mùi vị: Cây cỏ máu khi đun nước có màu đỏ tươi (Như màu máu) vị hơi chát, mát và ngọt hậu. Thời tiết nắng nóng ta nên để trong ngăn mát tủ lạnh uống rất thích.

Kinh nghiệm: Phụ nữ vùng cao chỉ sau từ 2-3 ngày sau khi sinh có thể đi nương, lên rãy làm bình thường bởi chị em có bảo bối là cây cỏ máu. Loài cây này giúp phục hồi sức khỏe cho sản phụ rất tuyệt vời. Nếu các chị em chưa dùng thì hãy thử dùng ngay hôm nay để cảm nhận và chia sẻ nhé.

Lưu ý khi sử dụng
Còn có 1 loại cây có hình dáng tương tự cây cỏ máu là cây (kê huyết đằng) loại này to lớn hơn, mùi vị không thơm ngon bằng cây cỏ máu nên ít dùng (Giá bán kê huyết đằng cũng rẻ hơn).
Nguồn: Tổng hợp online

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Ngũ gia bì, cây chân chim (lá lằng)

Tên khác của Ngũ gia bì Ngũ gia bì còn có tên gọi là Cây chân chim ( cùng họ với Nhân sâm ), một số địa phương miền núi phí Bắc còn gọi là : Cây lá lằng, cây đáng, cây chân vịt, Sâm nam, may tảng … Tên khoa học Acanthopanax aculeatus Seem. Khu vực phân bố Ở Việt nam Cây ngũ gia bì (chân chim) thường mọc hoang dại ở khắp các sườn đồi từ Bắc trí Nam, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía bắc. Ở tỉnh Hòa Bình cây chân chim mọc rất nhiều ở sườn đồi và ven suối. Bộ phận dùng Điểm đặc biệt của Ngũ gia bì, chân chim là không sử dụng toàn bộ thân làm thuốc. Mà chỉ dùng vỏ của thân, vỏ của rễ và rễ nhỏ để dùng làm thuốc Ngoài ra lá cũng được dùng làm thuốc điều trị sưng đau. Cách chế biến và thu hái Cách chế biến đơn giản nhất là rửa sạch đất cát, bóc lấy vỏ hoặc thái mỏng nếu lá rễ nhỏ, rồi phơi hoặc sao khô. Thành phần hóa học Trong cây thuốc có các hoạt chất: Saponin, tanin, tinh dầu. Tính vị Ngũ gia bì có vị đắng chát, tính mát * Công dụng Tác dụng làm vị thuốc

Ngũ vị tử

Ngũ vị tử là một vị thuốc rất đặc biệt, có đủ 5 vị đó là: Ngọt, đắng, chua, cay, mặn nên được y học cổ truyền gọi lới tên “Ngũ vị tử” ý chỉ loại hạt có tới 5 mùi vị. Tên khoa học Schisandra sinensis Baill. Thuộc họ ngũ vị tử. Khu vực phân bố Cây ngũ vị tử (Schisandra sinensis Baill) không có ở Việt Nam. Cây chỉ mọc ở một số nước xứ lạnh như: Trung Quốc, Nga, Mông Cổ, Hàn Quốc, Nhật Bản. Hiện nay ở Việt Nam có một loại ngũ vị tử được gọi là ngũ vị tử nam, ở nước ta cây này thường được người dân gọi là cây nắm cơm, cây na rừng, quả chí chuôn chua. Các bạn tham khảo thêm về vị thuốc này tại đây. Bộ phận dùng Quả là bộ phận được dùng làm thuốc. Cách chế biến và thu hái Mùa quả chín vào tháng 9 tháng 10 hàng năm, người ta hái quả về nhặt bỏ cuống, đem phơi hay sấy khô để làm thuốc. Thành phần hóa học Trong quả có chứa axit xitric, axit malic, axit tactric, vitamin C, schizandrin, đường, tanin, ngoài ra trong quả còn chứa rất nhiều khoáng chất có lợi cho sức khỏe. Tính v

Nấm phục linh thiên

Nấm phục linh thiên là một loại dược thảo cực hiếm, loại nấm này mới được phát hiện sử dụng một vài năm gần đây ở Việt Nam và được gọi với tên nấm phục linh thiên. Ngoài ra nấm còn có tên gọi là phục linh thần (phục thần), phục linh bì, xích phục linh. Người ta phân ra làm 2 loại nấm phục linh là: Phục linh thần và phục linh thiên: Phục linh thần: là loại nấm phục linh mọc ở từ rễ một loại cây họ thông có tên cây vân sam Phục linh thiên: là loại nấm phục linh mọc ra từ ngọn cây vân sam. Tên khoa học Poria cocos Wolf. Thuộc họ nấm lỗ Khu vực phân bố Loài nấm này cực hiếm, ở nước ta mới có một vài nơi phát hiện được loại nấm này. Nơi phát hiện nhiều nấm phục linh là dãy Hoàng Liên Sơn (Nơi có những cánh rừng cổ thụ hàng ngàn năm), ngoài ra nấm phục linh còn được tìm thấy ở vùng núi của tỉnh Lâm Đồng, Đà Nẵng. Bộ phận dùng Bộ phận dùng là phần nấm mọc ra từ ngọn cây vân sam. Nấm này càng lớn thì càng có giá trị, hiện nay kỷ lục củ nấm phục linh thiên có kích thước lớn nhất là