Chuyển đến nội dung chính

Cốt toái bổ (tắc kè đá)

Còn gọi là bổ cốt toái, co tạng tó (Thái ở châu Quỳnh Nhai), co ìn tó (Thái ở Điện Biên), cây tổ phượng, cây tổ rồng, tổ diều, tắc kè đá.

Tên khoa học
Drynaria /ortuneì J. Sm. (Polypodium ýortunei o. Kuntze).

Thuộc họ Dương xĩ Polypodiaceae.

Cốt toái bổ hay bổ cốt toái (Rhizoma Drynarìae fortunei) là thân rể phơi khô của cây bổ cốt toái. Tên bổ cốt toái vì người ta cho rằng vị này có tác dụng làm liền những xương dập gẫy.

Tên: tạng tố vì tạng có nghĩa là đặt vào, tố là liền lại vì vị thuốc này đặt vào thì làm liền lại. Chữ in có nghĩa là gân, vì vị thuốc có tác dụng nối liền gân cốt.

Nguồn gốc :

Vị thuốc được ghi đầu tiên trong sách Dược tính bản thảo, có tên Bổ cốt toái vì người ta cho rằng vị thuốc này có tác dụng làm liền những xương bị dập nát, gãy.



Phân bố, thu hái và chế biến
Mọc hoang ò khắp núi đá, trên cây hay dọc suối vùng rừng núi nước ta. Còn có mọc ở Lào, Trung Quốc (miền Trung và miển Nam).

Việc thu hái có thể tiên hành quanh năm, vàó những lúc ít công việc đổng áng, thưòng vào các tháng 4 đến tháng 8-9.

Hái về, rửa sạch đất cát, trừ bỏ các lá là dùng được. Nếu dùng khố thì sau khi rửa sạch đất cát, hoặc phơi khô ngay, hoặc phơi sau khi đỗ cho chín để dễ bảo quản. Muốn hết lông, thường người ta đốt nhẹ cho cháy hết lông nhỏ phủ trên thủn rễ.

Thành phần hoá học
Trong cốt toái bổ Drymria fortunei có hesperi- din (C A., 1970,73, 11382j) và 25-34,89% tinh bột (Trung Quốc kỉnh lể thực vật chí, 1961, 447).

Kết quả nghiên cứu theo dược lý hiện đại nghiên cứu về cốt toái bổ
Cốt toái bổ có tác dụng tăng cường sự hấp thu Calci của xương, nâng cao lượng Phospho và calci trong máu giúp cho chóng liền xương. Thuốc có tác dụng giảm đau và an thần.
Có tác dụng rõ phòng ngừa lipid huyết cao, làm giảm lipid máu cao và phòng ngừa được chứng xơ mỡ mạch.

Tác dụng của cốt toái bổ
Vị thuốc này mới thấy được dùng trong nhân dân. Theo lài liệu cổ, cốt toấi bổ có vị đắng, tính ôn và không độc, vào hai kinh can và thận. Có các tác dụng chính như sau:

Bổ thận, điều trị chứng ù tai, tiêu chảy do thận hư
điều trị đau xương, hành huyết phá huyết ứ, làm thuốc hoà hoãn, sát trùng đỡ đau.
Dùng điều trị dập xương, đau xương, bong gân, sai khớp, tai ù ràng đau
Lưu ý: Những người âm hư, huyết hư đều không dùng được.
Đối tượng sử dụng
Bệnh nhân mắc chứng thận hư
Người bị suy yếu chức năng thận, có biểu hiện như: Đau mỏi lưng, ù tai, điếc.
Người bị chảy máu chân răng, miệng hôi do suy giảm chức năng thận
Người bị sưng đau do chấn thương
Cách dùng, liều dùng cốt toái bổ làm thuốc.
Dùng uống trong hay đắp ở ngoài: Liều dùng hàng ngày là 6 đến 12g. Dùng ngoài không có liểu lượng. Có thể dùng dưới hình thức thuốc sắc hay ngâm rượu, hoặc giã đắp lên vết thương.

Nãm 1963, tại Quân y viện 6 (Tây Bắc) có dùng cốt toái bổ điều trị có kết quả 4 trường hợp bong gân, tụ máu như sau:

Cốt toái bổ tươi hái vé, bóc bỏ hết cả lông tơ và lá khô, sau đem rửa sạch, giã nhỏ. Rấp một ít nước nào, gói vào lá đã nướng cho mếm, rồi đắp lẽn các vết đau. Những loại gãy xương hở không dùng lối này. Trong một ngày thay thuốc bó nhiều lần. Nếu không đủ cốt toái bổ, có thể chỉ lấy bã Ihuốc ra, rấp nước rồi lại băng lại. Thường chỉ sau 3 ngày đến 1 tuần là bệnh nhân đỡ và ra viện trong khi dùng các phương pháp khác kéo dài có khi hàng tháng mà không dỡ (Báo cáo của bác sĩ Lô Sỹ Toàn và hộ lý Lò Vãn Sú Quán y viện 6, Tây Bắc).

Những đơn thuốc khác có cốt toái bổ
Cốt toái bổ, tán nhỏ, cho vào bồ dục lợn, nướng chín mà ăn để điều trị các chứng ù tai, thận hư, răng đau.

điều trị chứng răng đau, răng long, răng chảy máu do thận hư:

Thục địa 16g
Sơn dược, Sơn thù du, Phục linh, Đơn bì, Trạch tả mỗi thứ 12g
Tế tân 2g
Cốt toái bổ 16g
Sắc uống trong ngày.
Chú thích:

Tại Việt Nam, ngoài vị Drvnaria Ịovtunei, người ta còn dùng thân rễ một loại cây khấc gọi là Drynaria bonii Christ, cùng họ với cùng một công dụng.
Nguồn:Tổng hợp online

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Ngũ gia bì, cây chân chim (lá lằng)

Tên khác của Ngũ gia bì
Ngũ gia bì còn có tên gọi là Cây chân chim ( cùng họ với Nhân sâm ), một số địa phương miền núi phí Bắc còn gọi là : Cây lá lằng, cây đáng, cây chân vịt, Sâm nam, may tảng …
Tên khoa học
Acanthopanax aculeatus Seem.

Khu vực phân bố
Ở Việt nam Cây ngũ gia bì (chân chim) thường mọc hoang dại ở khắp các sườn đồi từ Bắc trí Nam, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía bắc.
Ở tỉnh Hòa Bình cây chân chim mọc rất nhiều ở sườn đồi và ven suối.
Bộ phận dùng Điểm đặc biệt của Ngũ gia bì, chân chim là không sử dụng toàn bộ thân làm thuốc. Mà chỉ dùng vỏ của thân, vỏ của rễ và rễ nhỏ để dùng làm thuốc Ngoài ra lá cũng được dùng làm thuốc điều trị sưng đau. Cách chế biến và thu hái Cách chế biến đơn giản nhất là rửa sạch đất cát, bóc lấy vỏ hoặc thái mỏng nếu lá rễ nhỏ, rồi phơi hoặc sao khô. Thành phần hóa học Trong cây thuốc có các hoạt chất: Saponin, tanin, tinh dầu. Tính vị Ngũ gia bì có vị đắng chát, tính mát
* Công dụng Tác dụng làm vị thuốc bồi bổ cơ thể Tác dụng điều trị cảm số…

Ngũ vị tử

Ngũ vị tử là một vị thuốc rất đặc biệt, có đủ 5 vị đó là: Ngọt, đắng, chua, cay, mặn nên được y học cổ truyền gọi lới tên “Ngũ vị tử” ý chỉ loại hạt có tới 5 mùi vị.

Tên khoa học
Schisandra sinensis Baill. Thuộc họ ngũ vị tử.

Khu vực phân bố
Cây ngũ vị tử (Schisandra sinensis Baill) không có ở Việt Nam. Cây chỉ mọc ở một số nước xứ lạnh như: Trung Quốc, Nga, Mông Cổ, Hàn Quốc, Nhật Bản.

Hiện nay ở Việt Nam có một loại ngũ vị tử được gọi là ngũ vị tử nam, ở nước ta cây này thường được người dân gọi là cây nắm cơm, cây na rừng, quả chí chuôn chua. Các bạn tham khảo thêm về vị thuốc này tại đây.

Bộ phận dùng
Quả là bộ phận được dùng làm thuốc.

Cách chế biến và thu hái
Mùa quả chín vào tháng 9 tháng 10 hàng năm, người ta hái quả về nhặt bỏ cuống, đem phơi hay sấy khô để làm thuốc.

Thành phần hóa học
Trong quả có chứa axit xitric, axit malic, axit tactric, vitamin C, schizandrin, đường, tanin, ngoài ra trong quả còn chứa rất nhiều khoáng chất có lợi cho sức khỏe.
Tính vị Ngũ vị tử có vị ngọt, đắ…

Nấm phục linh thiên

Nấm phục linh thiên là một loại dược thảo cực hiếm, loại nấm này mới được phát hiện sử dụng một vài năm gần đây ở Việt Nam và được gọi với tên nấm phục linh thiên. Ngoài ra nấm còn có tên gọi là phục linh thần (phục thần), phục linh bì, xích phục linh.

Người ta phân ra làm 2 loại nấm phục linh là: Phục linh thần và phục linh thiên:

Phục linh thần: là loại nấm phục linh mọc ở từ rễ một loại cây họ thông có tên cây vân sam
Phục linh thiên: là loại nấm phục linh mọc ra từ ngọn cây vân sam.
Tên khoa học
Poria cocos Wolf. Thuộc họ nấm lỗ

Khu vực phân bố
Loài nấm này cực hiếm, ở nước ta mới có một vài nơi phát hiện được loại nấm này. Nơi phát hiện nhiều nấm phục linh là dãy Hoàng Liên Sơn (Nơi có những cánh rừng cổ thụ hàng ngàn năm), ngoài ra nấm phục linh còn được tìm thấy ở vùng núi của tỉnh Lâm Đồng, Đà Nẵng.

Bộ phận dùng
Bộ phận dùng là phần nấm mọc ra từ ngọn cây vân sam. Nấm này càng lớn thì càng có giá trị, hiện nay kỷ lục củ nấm phục linh thiên có kích thước lớn nhất là 14kg tại Yên …