Chuyển đến nội dung chính

Khiếm thực

Vị thuốc khiếm thực còn có tên gọi khác là kê đầu, khiếm, thủy lục đơn. Đây chính là hạt phơi khô của cây khiếm thực.

Tên khoa học
Euryale ferox Salisb. Thuộc họ súng.

Khu vực phân bố
Cây khiếm thực hiện nay vẫn chưa được di thực về Việt Nam, nguồn nguyên liệu được nhập khẩu từ Trung Quốc.
Ở Việt Nam ta vẫn có vị khiếm thực nam, đây thực chất là củ của cây hoa súng. Vị thuốc này cũng có công dụng tương tự.
Bộ phận dùng
Hạt của cây khiếm thực chính là vị thuốc khiếm thực mà ta đang sử dụng.

Cách chế biến và thu hái
Ta chỉ thu hái hạt của cây Khiếm thực, hạt kiến thức được thu hái vào thời điểm từ tháng 10 đến tháng 12 hàng năm.
Người ta sẽ cắt quả khiếm thực, sau đó về tách hạt, phơi khô rồi đập vỡ hạt ra thành 2 hoặc 3 miếng nhỏ, bảo quản để làm thuốc.

Thành phần hóa học
Vị thuốc này có rất nhiều dược tính quý, năm 1957 ta phân tích thấy trong hạt có chứa chất protit, hydrat cacbon, chất béo, chất canxi, P, Fe, vitamin C.

Tính vị
Theo y học cổ truyền vị thuốc khiếm thực có vị ngọt, hơi chát, tính bình, vào 2 kinh tỳ và thận.

* Công dụng của cây khiếm thực
Đông y coi kiếm thực là một vị thuốc bổ, được dùng rất nhiều trong các thang thuốc y học cổ truyền. Sau đây là một số công dụng chính của vị thuốc này:

Bổ tỳ
Bổ thận, tráng dương
Tăng cường sinh lý rất mạnh
Điều trị bệnh di tinh, mộng tinh
Điều trị xuất tinh sớm
Điều trị thần kinh suy nhược
Điều trị bệnh bạch đới
Điều trị chứng đại tiện phân lỏng
Điều trị chứng đi tiểu đêm, không điều khiển được đi tiểu
Cách dùng, liều dùng
Cách dùng: Khiếm thực 500g, kim anh tử 500g, tán thành dạng bột. Mỗi ngày lấy 5g bột khiếm thực, 5g bột kim anh tử, thêm 2 thìa mật ong chộn đều chia 3 lần uống trong ngày.
Công dụng: Điều trị chứng di mộng tinh, yếu sinh lý, xuất tinh sớm, thần kinh suy nhược, yếu thận, đi cầu phân lỏng, lạnh bụng

Nguồn:Tổng hợp online

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Ngũ gia bì, cây chân chim (lá lằng)

Tên khác của Ngũ gia bì Ngũ gia bì còn có tên gọi là Cây chân chim ( cùng họ với Nhân sâm ), một số địa phương miền núi phí Bắc còn gọi là : Cây lá lằng, cây đáng, cây chân vịt, Sâm nam, may tảng … Tên khoa học Acanthopanax aculeatus Seem. Khu vực phân bố Ở Việt nam Cây ngũ gia bì (chân chim) thường mọc hoang dại ở khắp các sườn đồi từ Bắc trí Nam, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía bắc. Ở tỉnh Hòa Bình cây chân chim mọc rất nhiều ở sườn đồi và ven suối. Bộ phận dùng Điểm đặc biệt của Ngũ gia bì, chân chim là không sử dụng toàn bộ thân làm thuốc. Mà chỉ dùng vỏ của thân, vỏ của rễ và rễ nhỏ để dùng làm thuốc Ngoài ra lá cũng được dùng làm thuốc điều trị sưng đau. Cách chế biến và thu hái Cách chế biến đơn giản nhất là rửa sạch đất cát, bóc lấy vỏ hoặc thái mỏng nếu lá rễ nhỏ, rồi phơi hoặc sao khô. Thành phần hóa học Trong cây thuốc có các hoạt chất: Saponin, tanin, tinh dầu. Tính vị Ngũ gia bì có vị đắng chát, tính mát * Công dụng Tác dụng làm vị thuốc

Lá trầu không

Lá trầu không là lá của cây trầu không, còn có tên gọi khác là thược tương. Tên khoa học Piper betie L. Thuộc họ hồ tiêu Khu vực phân bố Cây trầu không được người dân trồng ở khắp các vùng miền cả nước để lấy lá ăn trầu. Trong các đám cưới, đám chay đều có lá trầu, buồng cau. Có câu miếng trầu là đầu câu chuyện, ý nói trầu cau rất phổ biến trong đời sống hàng ngày của người Việt Nam ta. Thật bất ngờ loài cây thông dụng này lại có công dụng điều trị bệnh viêm da cơ địa cực hay. Bộ phận dùng Lá là bộ phận được dùng làm thuốc. Cách chế biến và thu hái Người dân thường thu hái lá tươi để dùng quanh năm. Thành phần hóa học Trong lá trầu có chứa một lượng tinh dầu mùi thơm. Tinh dầu này có thành phần hóa học chính là các hợp chất phenol, betel-phenol Tính vị Lá trầu không có vị cay nồng, thơm nhẹ, tính ấm. * Công dụng của lá trầu không Theo kinh nghiệm dân gian lá trầu không có các công dụng chính sau: Điều trị đầy bụng, khó tiêu Sát trùng vết thương Tẩy vết chàm ở

Cây nàng hai

Cây nàng hai còn được gọi là cây ngứa…. Tên khoa học Cây có tên khoa học là Urtica dioica L. Khu vực phân bố Cây nàng hai mọc ở hầu hết các tỉnh thành trên cả nước. Ở nước ta cây mọc nhiều ở một số tỉnh phía Nam như: Huế, Bình Thuận, Lâm Đồng, Đồng Nai, Vũng Tàu…. Bộ phận dùng Toàn cây gồm lá, thân và rễ của cây đều dùng làm thuốc. Cách chế biến và thu hái Cây thường được thu hái vào thời điểm từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm, bằng cách nhổ cả cụm cây, để riêng rễ và lá, đem chặt ngắn phơi khô làm thuốc. Thành phần hóa học Cây có tính độc, rất ngứa nên còn được gọi là cây ngứa. Lông cây nàng hai khi dính vào da sẽ gây ngứa, nổi đỏ rất khó chịu bởi trong lông có chứa dịch chất acide formique, chất này gây ngứa, khiến người bị tiếp xúc gãi liên tục gây nổi mụn. * Công dụng của cây nàng hai Những thông tin về cây nàng hai khá ít ỏi, vị thuốc này mới  được sử dụng trong phạm vi nhân dân. Cây thường dùng để điều trị một số bệnh sau: Tác dụng điều trị sốt kéo dài Tác