Chuyển đến nội dung chính

Lá Khôi (cây khôi nhung)

Mô tả :
Cây Khôi Cây nhỏ cao tới 2m, thân rỗng xốp, ít phân nhánh.
Lá tập trung ở đầu ngọn hay các nhánh bên; phiến lá thon ngược dài 15-40cm, rộng 6-10cm, mặt trên màu lục sẫm mịn như nhung, mặt dưới màu tím đỏ, gân nổi hình mạng lưới, mép lá có răng cưa nhỏ.
Hoa mọc thành chùm, dài 10-15cm, màu trắng pha hồng tím gồm 5 lá đài và 3 cánh hoa.
Quả mọng, khi chín màu đỏ.
Hoa tháng 5-7, quả tháng  8-9
Phân loại lá khôi
Có 2 loại cây Khôi khác nhau là: Khôi tía và khôi trắng

Khôi tía: Như môt tả của chúng tôi ở trên
Khôi trắng: Hai mặt lá đều màu xanh, mặt dưới không có màu tím
Kinh nghiệm dân gian: Cả hai loại trên đều được dùng làm thuốc điều trị đau dạ dày, nhưng dân gian thường ưa dùng loại khôi tía hơn
Tên thuốc: Lá khôi.

Tên khác:
Cây độc lực, Đơn tướng quân, Khôi nhung, Khôi tía.

Tên khoa học:
Ardisia sylvestris Pitard., họ Đơn nem (Myrsinaceae).
Phân bố:
Cây mọc rải rác ở các tỉnh miền núi phía bắc và trung như: Lào Cai (Sapa), Lạng Sơn (Hữu Lũng), Quảng Ninh, Vĩnh phúcc (Tam Đảo), Hà Tây (Ba Vì), Ninh Bình (Cúc Phương),Hòa Bình, Thanh Hóa (Lang Chánh, Ngọc Lạc, Thạch Thành), Nghệ An (Qùi Châu), Quảng điều trị, Thừa Thiên Huế (Phú Lộc), Quảng Nam – Đà Nẵng.
Bộ phận dùng làm thuốc:
Bộ phận dùng làm thuốc của Cây khôi là : Lá

Thành phần hoá học: Tanin và glucosid.

Công năng:Làm giảm độ acid của dạ dày
công dụng:
điều trị đau dạ dày, viêm loét dạ dày, hành tá tràng
Tác dụng trung hòa, làm giảm tiết acid dịch vị, làm se vết loét , giúp liền sẹo và vết thương, kích thích lên da non và làm lành dạ dày, tá tràng nhanh chóng.

Cách dùng, liều lượng:
Ngày uống 40-80g sắc uống phối hợp với các vị thuốc khác.
Bài thuốc dân gian điều trị bệnh từ lá khôi tía
Nhân dân miền ngược vùng Lang chánh, Ngọc lạc tỉnh Thanh hoá thường dùng lá Khôi chế biến, sắc uống điều trị đau bụng. Hội Đông y Thanh hoá đã kếp hợp Lá khôi với các vị thuốc nam sắc uống để điều trị đau dạ dày như sau:

Lá Khôi………………….. (60g)
Lá Bồ công anh ………(40g)
Lá Khổ sâm ………….. (12g)
Có thể thêm lá Cam thảo dây (20g).
Sắc với 1,5 lít nước trong thời gian 20 phút, chắt nước uống ngày 3 lần trước bữa ăn 30 phút ( Uống và lúc đói )
Bài thuốc trên của hội đông y tỉnh Thanh hóa tỏ ra vô cùng hiệu quả, kết quả cho thấy: Chỉ sau 1 tuần dùng bài thuốc trên Có đến 95 % bệnh nhân đau dạ dày đã có kết quả: Hết đau, đầy hơi, có cảm giác thèm ăn, ăn ngon miệng và người dễ chịu. Sau 1 tháng điều trị liên tục: Có đến 80% bệnh nhân đau dạ dày đã khỏi hoàn toàn. Đây là một thông tin tốt cho các bệnh nhân bị viêm loét dạ dày, hành tá tràng.

Nhiều địa phương khác ở tỉnh Nghệ an cũng dùng lá Khôi điều trị đau dạ dày.
Lá Khôi được dùng với lá Vối, lá Hòe nấu nước tắm cho trẻ bị sài lở, hoặc giã với lá Vối trộn với dầu vừng đắp nhọt cho trẻ.
Đồng bào Dao dùng rễ cây Khôi thái nhỏ phơi khô ngâm rượu uống cho bổ huyết, lại dùng sắc uống điều trị kiết lỵ ra máu, đau yết hầu và đau cơ nhục.
Trong dân gian người Mường Hòa Bình có một bài thuốc Dạ Khôi Thảo điều trị bệnh đau dạ dày rất hiệu quả, trong đó thành phần chính là Lá khôi.

Nguồn:Tổng hợp online

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Cây nàng hai

Cây nàng hai còn được gọi là cây ngứa…. Tên khoa học Cây có tên khoa học là Urtica dioica L. Khu vực phân bố Cây nàng hai mọc ở hầu hết các tỉnh thành trên cả nước. Ở nước ta cây mọc nhiều ở một số tỉnh phía Nam như: Huế, Bình Thuận, Lâm Đồng, Đồng Nai, Vũng Tàu…. Bộ phận dùng Toàn cây gồm lá, thân và rễ của cây đều dùng làm thuốc. Cách chế biến và thu hái Cây thường được thu hái vào thời điểm từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm, bằng cách nhổ cả cụm cây, để riêng rễ và lá, đem chặt ngắn phơi khô làm thuốc. Thành phần hóa học Cây có tính độc, rất ngứa nên còn được gọi là cây ngứa. Lông cây nàng hai khi dính vào da sẽ gây ngứa, nổi đỏ rất khó chịu bởi trong lông có chứa dịch chất acide formique, chất này gây ngứa, khiến người bị tiếp xúc gãi liên tục gây nổi mụn. * Công dụng của cây nàng hai Những thông tin về cây nàng hai khá ít ỏi, vị thuốc này mới  được sử dụng trong phạm vi nhân dân. Cây thường dùng để điều trị một số bệnh sau: Tác dụng điều trị sốt kéo dài Tác

hoa tam thất

Ngoài củ tam thất (Kim bất hoán) là một trong những dược liệu quý được dùng phổ biến, hoa của cây tam thất cũng được cũng là một vị thuốc được sử dụng rất nhiều trong y học cổ truyền. *Những tác dụng quý của Hoa tam thất: Tác dụng điều trị mất ngủ, mơ sảng, khó ngủ, ngủ không sâu giấc (Tác dụng này của Hoa tam thất là vô cùng hiệu quả, kể cả với những người mất ngủ kéo dài, kinh niên. Hoa tam thất sẽ giúp bạn giải quyết bệnh mất ngủ một cách triệt để với hiệu quả đáng kinh ngạc). Tác dụng ổn định huyết áp kể cả người mắc huyết áp cao và huyết áp thấp, Hoa tam thất đều có tác dụng rất tốt. Tác dụng tăng lực: Giúp giảm căng thẳng mệt mỏi khi bạn phải làm việc nặng nhọc với cường độ cao ( Đặc biệt trong những ngày mùa hè oi bức ) Tác dụng tốt cho hệ tuần hoàn, tim mạch: Hoa tam thất được chứng minh là vị thuốc rất tốt cho hệ tim mạch. Những bệnh nhân tim mạch nên sử dụng Hoa tam thất hàng ngày để có một trái tim khoẻ mạnh. Tác dụng phòng ngừa và hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường, giú

Ngũ gia bì, cây chân chim (lá lằng)

Tên khác của Ngũ gia bì Ngũ gia bì còn có tên gọi là Cây chân chim ( cùng họ với Nhân sâm ), một số địa phương miền núi phí Bắc còn gọi là : Cây lá lằng, cây đáng, cây chân vịt, Sâm nam, may tảng … Tên khoa học Acanthopanax aculeatus Seem. Khu vực phân bố Ở Việt nam Cây ngũ gia bì (chân chim) thường mọc hoang dại ở khắp các sườn đồi từ Bắc trí Nam, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía bắc. Ở tỉnh Hòa Bình cây chân chim mọc rất nhiều ở sườn đồi và ven suối. Bộ phận dùng Điểm đặc biệt của Ngũ gia bì, chân chim là không sử dụng toàn bộ thân làm thuốc. Mà chỉ dùng vỏ của thân, vỏ của rễ và rễ nhỏ để dùng làm thuốc Ngoài ra lá cũng được dùng làm thuốc điều trị sưng đau. Cách chế biến và thu hái Cách chế biến đơn giản nhất là rửa sạch đất cát, bóc lấy vỏ hoặc thái mỏng nếu lá rễ nhỏ, rồi phơi hoặc sao khô. Thành phần hóa học Trong cây thuốc có các hoạt chất: Saponin, tanin, tinh dầu. Tính vị Ngũ gia bì có vị đắng chát, tính mát * Công dụng Tác dụng làm vị thuốc